Sự thay đổi tư duy và hành động trong hợp tác đầu tư.

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50 / NQ-TW vào ngày 20 tháng 8 năm 2019, phác thảo các hướng để hoàn thiện các thể chế và chính sách để cải thiện hiệu quả và hợp tác đầu tư nước ngoài cho đến năm 2030.

Phân khúc ánh sáng của bức tranh kinh tế

Nghị quyết nhằm hướng tới một cách tiếp cận đồng bộ, nhất quán và minh bạch với các tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến cũng như hài hòa với các cam kết quốc tế nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược và các tập đoàn đa quốc gia đầu tư, mở trụ sở và thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển và trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam .

Nghị quyết cũng sẽ góp phần tăng cường mối liên kết giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước cũng như khuyến khích tăng cường chuyển giao công nghệ và quản lý cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Nghị quyết số 50 / NQ-TW đặt mục tiêu vốn đăng ký đạt khoảng 150 tỷ đô la Mỹ – 200 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 2021-2025 và khoảng 200 tỷ đô la Mỹ – 300 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 2026-2030; vốn thực hiện đạt khoảng 100 tỷ USD – 150 tỷ USD và 150 tỷ USD – 200 tỷ USD tương ứng.

Hai mục tiêu này là khả thi vì Việt Nam thu hút 35,97 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài và vốn thực hiện đạt 20,38 tỷ USD vào năm 2019. Do đó, tốc độ tăng trưởng trung bình 7% -8% mỗi năm là có thể thực hiện được.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phân khúc sáng sủa của bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2019. Tính đến ngày 20 tháng 12 năm 2019, vốn đầu tư nước ngoài đã đạt 20,38%, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng vốn mới đăng ký, điều chỉnh và góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài là gần 36 tỷ USD, tăng 1,4 USD so với năm trước. Các doanh nghiệp FDI có tổng kim ngạch xuất khẩu (bao gồm cả dầu thô) là 181,35 tỷ USD, tăng 4,2% so với năm 2018 và chiếm 68,8% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 145,5 tỷ USD, tăng 2,5% và chiếm 57,4% tổng sản lượng của cả nước. Khu vực kinh tế này cũng có thặng dư thương mại gần 35,68 tỷ USD, không chỉ bù đắp thâm hụt thương mại của khu vực kinh tế trong nước mà còn tăng thêm thặng dư xuất khẩu 11,2 tỷ USD cho nền kinh tế.

Ba yếu tố quyết định

Việc phân phối vốn FDI vào các thành phần kinh tế tiếp tục giữ mức như các năm trước. Hoạt động mua bán và sáp nhập (M & A) hoạt động mạnh mẽ hơn, chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong tổng số vốn đăng ký, từ 17,02% năm 2017 lên 27,78% năm 2018 và 37,3% năm 2019.

Đây là một dấu hiệu tốt bởi vì quy mô lớn hơn của kinh doanh trong nước đã tạo ra nguồn cung M & A dồi dào và chính sách mở cửa của thị trường chứng khoán cũng như mở rộng phòng cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), vốn đầu tư vào các nước đang phát triển ở châu Á đạt 512 tỷ USD, tăng 3,9% vào năm 2018, chiếm 39% tổng vốn FDI toàn cầu; trong khi đó vốn FDI vào Đông Nam Á là kỷ lục 149 tỷ USD, tăng 3%. Đặc biệt, Singapore, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan chứng kiến ​​sự tăng trưởng tương đối cao. Các ngành sản xuất, dịch vụ, bán buôn, bán lẻ và kỹ thuật số tại các nước ASEAN thu hút nhiều vốn FDI nhất.

Nhiều báo cáo cho thấy do tác động của căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, nhiều nhà đầu tư Mỹ, châu Âu và châu Á đang chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang nước họ hoặc nước thứ ba, Việt Nam là lựa chọn hàng đầu.

Nhìn chung, chất lượng và hiệu quả của FDI năm 2019 không đáp ứng yêu cầu của đất nước liên quan đến quá trình chuyển đổi sang đổi mới sáng tạo, khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xây dựng eocnomy kỹ thuật số.

Quy mô trung bình của mỗi dự án FDI là quá nhỏ, với khoảng 4 tỷ USD mỗi dự án, cho thấy thiếu các thực thể quy mô lớn. Năm 2018, các dự án lớn nhất là xây dựng thành phố thông minh ở quận Đông Anh (Hà Nội) trị giá 4,14 tỷ USD và xây dựng nhà máy Polypropylen và kho chứa xăng dầu hóa lỏng do Hàn Quốc (RoK) tài trợ ở Bà Rịa – Tỉnh Vũng Tàu, tổng trị giá 1,2 tỷ USD. Dự án lớn nhất năm 2019 chỉ trị giá 420 triệu USD.

Trong các ngành công nghiệp chế biến và sản xuất, chưa có nhiều dự án về công nghệ tương lai như trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi khối, fintech và nghiên cứu và phát triển (R & D), đặc biệt là ở hai trung tâm kinh tế lớn của Hà Nội và Hồ Chí Minh Thành phố.

Để đạt được mục tiêu chất lượng FDI theo Nghị quyết số 50, Việt Nam nên thay đổi suy nghĩ và hành động đối với việc lựa chọn đối tác và dự án FDI vì đây là những vấn đề liên quan đến chuyển giao công nghệ, quản trị doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cần thiết phải thu hút thêm vốn FDI từ Nhật Bản, RoK, Singapore và châu Á cũng như tăng nhanh các dự án đầu tư quy mô lớn từ Mỹ, Đức, Pháp, Anh và một số nước châu Âu khác vào công nghệ, giáo dục và đào tạo hiện đại và tương lai và R & D.

Ngoài việc khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào Việt Nam, các công ty có liên quan sẽ thu hút thêm các công ty xuyên quốc gia từ top 500 thế giới về các dự án trị giá hàng tỷ đô la Mỹ. Các dự án FDI vào các địa phương phải phù hợp với trình độ phát triển của từng tỉnh, thành phố.

Để đạt được những mục tiêu này, Việt Nam cần hoàn thiện các thể chế chính trị và kinh tế, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn và lựa chọn các dự án và nhà đầu tư nước ngoài phù hợp.

Đây là ba yếu tố quyết định để thực hiện định hướng FDI chính xác. Điều cần thiết là phải thúc đẩy các biện pháp cụ thể, bao gồm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế kỹ thuật số, lưu thông và xanh.

Các bộ, cơ quan, địa phương và ban quản lý các khu kinh tế và công nghiệp cần đồng thời thực hiện các chiến lược này để thu hút vốn đầu tư thông qua chính phủ điện tử và chính phủ kỹ thuật số, tạo ra những đột phá trong khi xây dựng một danh sách các dự án FDI theo quy mô lớn và chất lượng cao.

Các cơ quan liên quan cần đổi mới đồng bộ liên quan đến các hoạt động xúc tiến đầu tư và các tiêu chuẩn cần thiết cho chứng nhận đầu tư cũng như giám sát, hỗ trợ và kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp.

Việc tận dụng những cơ hội mới này là rất quan trọng vì vị thế của đất nước đã được nâng lên cả khu vực và quốc tế và một số nhà máy FDI đã được chuyển đến Việt Nam để chọn nhà đầu tư tiềm năng cho các dự án chất lượng cao và quy mô lớn.

Yếu tố quyết định là cải cách bộ máy nhà nước theo hướng chính phủ điện tử và chính phủ số để phục vụ người dân và doanh nghiệp một cách hiệu quả và hiệu quả.

You may also like...