Thực tế và tầm nhìn cho các khu công nghiệp.

Các phương tiện truyền thông gần đây đã đề cao các đặc tính công nghiệp, đặc biệt là đất công nghiệp, như một lĩnh vực tiềm năng để thu hút đầu tư.

Do đó, có rất nhiều ý kiến ​​phản đối đề xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường với Thủ tướng Chính phủ về việc giảm hơn 18.200 ha đất công nghiệp tại 15 địa phương sau khi sửa đổi quy hoạch tại 24 địa phương.

Tình hình hiện tại của các khu công nghiệp là gì và giải pháp liên quan đến tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và hệ thống khu công nghiệp nói riêng để xử lý vấn đề này là gì?

Cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ, đặc biệt là sự lan rộng toàn cầu của, đã buộc nhiều quốc gia và các công ty đa quốc gia phải xem xét tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Tại Việt Nam, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được Chính phủ chọn là một trong năm mũi nhọn của mũi nhọn để thúc đẩy tăng trưởng trong thời kỳ khó khăn hiện nay của nền kinh tế. FDI là một nguồn vốn quan trọng cho các khu công nghiệp và khu kinh tế, chiếm 60-70% tổng nguồn vốn FDI thu hút vào quốc gia này. Do đó, các khu công nghiệp đang trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Theo thống kê, có 374 khu công nghiệp với tổng diện tích 114.000 ha tại Việt Nam; trong đó có 280 với 77.000 ha đang hoạt động và 75 đang trong quá trình giải phóng mặt bằng và bồi thường. Tỷ lệ lấp đầy trong khu vực là 73,7%.

Thống kê của Cục Quản lý Khu công nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, khoảng 37.000 ha đất trong khu công nghiệp đang được giải phóng mặt bằng và bồi thường và chưa được sử dụng. 18.200 ha đất mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất giảm thuộc về các khu công nghiệp đó. Vì vậy, diện tích đất công nghiệp chưa sử dụng là lớn và diện tích đất được đề xuất giảm cũng lớn, chiếm gần 50% diện tích đất chưa sử dụng. Tuy nhiên, để kết luận rằng diện tích 37.000 ha đất chưa sử dụng là quá lớn đến nỗi dù có cần giảm hay không thì cũng phải tính đến nhu cầu phát triển.

Việt Nam đang thu hút vốn FDI vào các dự án lớn, công nghệ cao liên kết với các trung tâm R & D, trung tâm đào tạo, dịch vụ và các cơ sở liên quan để phục vụ các hoạt động sản xuất của toàn bộ tổ hợp. Với định hướng này, nó cần diện tích đất lớn lên tới vài trăm ha. Để thu hút đầu tư vào việc phát triển các khu công nghệ cao giao nhau, cần vài nghìn ha. Một ví dụ, Indonesia đang chuẩn bị hàng ngàn hécta đất ở những vị trí phù hợp và phát triển cơ sở hạ tầng để chào đón phong trào FDI quốc tế do tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Việt Nam cũng nên nghĩ đến việc tạo quỹ đất đủ lớn để thu hút dòng vốn này.

Có nhiều ý kiến ​​khác nhau về đề xuất giảm diện tích đất công nghiệp. Theo quan điểm của thực tế và tầm nhìn, cần đề xuất một giải pháp tốt để đáp ứng nhu cầu phát triển, đồng thời để tránh lãng phí tài nguyên đất, vì các bên liên quan, với vị trí và trách nhiệm của riêng họ, có quan điểm khác nhau và không dễ tiếp cận đoàn kết.

Các nhà lãnh đạo và chuyên gia kinh tế đã có các cuộc thảo luận bên lề về phân vùng phát triển ngành trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương. Trong các cuộc thảo luận như vậy, nhiều người đã chỉ trích những thay đổi và sửa đổi thường xuyên đối với phân vùng phát triển ngành trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của một số địa phương. Một kết luận cuối cùng là tự nhiên không có sẵn, vì các cuộc thảo luận đã không được tổ chức tại các sự kiện chính thức. Tuy nhiên, hầu hết các bên liên quan thường đồng ý rằng trước khi đưa ra quyết định phân vùng cuối cùng, cần có khảo sát để có đánh giá chính xác về thực tế phải thay đổi, cần xác định ưu và nhược điểm của quyết định, quyết định phải được xác định đạt được mục tiêu cho những đối tượng thay đổi trong phân vùng phát triển và những lợi ích ngắn hạn có thể được hy sinh để đạt được các mục tiêu dài hạn.

Liên quan đến đề xuất giảm diện tích đất công nghiệp, họ đã đề xuất những việc cần làm trước khi đưa ra quyết định.

Trước tiên, cần có một cuộc khảo sát để có đánh giá chính xác về việc sử dụng và thuê đất trong các khu công nghiệp theo một số tiêu chí, chẳng hạn như năm được giao đất, và tại sao việc phát triển cơ sở hạ tầng chưa hoàn thành và đất chưa được thuê . Những lý do cho tình huống này cần được chỉ ra, ví dụ thiếu vốn để phát triển, không giải phóng mặt bằng, không có người thuê hoặc các vấn đề về thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất.

Thứ hai, để đảm bảo sự hợp lý trước khi quyết định giảm diện tích đất công nghiệp được đưa ra, cần phải giảm bớt việc sử dụng diện tích để đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên quan trọng này. Sự phức tạp và kéo dài của thủ tục để giảm diện tích đất và chuyển diện tích giảm cho các nhà phát triển khác nên được xem xét. Ngoài ra, cần tính đến lợi ích của các nhà phát triển khu công nghiệp đã không thuê được đất nhưng lý do không nằm trong phạm vi trách nhiệm của họ.

Thứ ba, cần đánh giá xem việc giảm diện tích đất công nghiệp sẽ ảnh hưởng đến quỹ đất phát triển công nghiệp của đất nước hay địa phương liên quan trong thời gian dài. Có nhất thiết phải dành ra những lợi ích trước mắt và thời gian rảnh rỗi cho những việc cần làm trước tiên để đạt được mục tiêu dài hạn không? Nếu mục đích sử dụng diện tích đất giảm không thay đổi mà chỉ nhằm chuyển nhượng đất cho nhà phát triển mới để có hiệu quả cao hơn, thì vấn đề rất đơn giản, vì những người có điều kiện tốt hơn và mang lại nhiều lợi ích hơn cho đất nước nên được cho phép để làm công việc đó. Tuy nhiên, nếu việc cắt giảm được thực hiện cho các mục đích khác, chẳng hạn như phát triển bất động sản dân cư hoặc du lịch, thì đó là một vấn đề lớn cần được xem xét cẩn thận.

You may also like...