Việt Nam sẽ ra sao nếu không có đồng bằng sông cửu long.

Với đất nước tràn ngập nỗi sợ hãi về tiểu thuyết coronavirus, một mối đe dọa nghiêm trọng hơn nữa đang dần đến gần ở phía nam: cái chết của đồng bằng sông Cửu Long.

Cuối tháng trước, nông dân trong khu vực đã lên tiếng sau khi quyết định bán lớp đất mặt từ ruộng lúa của họ vì họ không thể trồng được gì nữa.

Năm 2016, khu vực miền trung và miền nam tại Việt Nam đã trải qua hạn hán và xâm nhập mặn tồi tệ nhất trong 100 năm qua, với 18 tỉnh tuyên bố tình trạng khẩn cấp cùng một lúc.

Ở nhiều vùng tại Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang và Bạc Liêu, có tới 80% vụ lúa bị mất và một triệu người còn lại rất cần được hỗ trợ lương thực. Gần hai triệu người mất sinh kế hoặc bị ảnh hưởng xấu.

Kịch bản có thể trở lại trong năm nay, và thậm chí có thể tồi tệ hơn.

Các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên Giang và Cà Mau đều tuyên bố tình trạng khẩn cấp vào đầu tháng này.

Các quan chức cho biết hạn hán và nhiễm mặn năm nay đã nghiêm trọng hơn so với năm 2016, với lý do mức độ mặn đã vượt qua kỷ lục năm 2016.

Khoảng 40.000 ha cánh đồng lúa đã bị hư hại, trong khi tình trạng thiếu nước tràn lan. Khoảng 90.000 người không có đủ nước để uống và sử dụng trong gia đình.

Ở nhiều tỉnh thuộc khu vực phía tây nam, người dân phải trả 200.000 đồng cho một mét khối nước ngọt.

Đồng bằng sông Cửu Long, nơi sinh sống của 19 triệu người, tương đương 21% dân số Việt Nam, sản xuất hơn 90% gạo xuất khẩu của đất nước và hơn 60% hải sản của đất nước.

Và nó chỉ là một nửa trong mùa khô, bắt đầu vào cuối tháng 11 và kéo dài đến tháng Năm. Các chuyên gia cho biết xâm nhập mặn và hạn hán sẽ còn khắc nghiệt hơn trong hai tháng tới.

Hạn hán và xâm nhập mặn đang diễn ra có thể bị đổ lỗi một phần do biến đổi khí hậu, nhưng thật đáng buồn, các chuyên gia nói rằng phần lớn là do tác động của con người gây ra.

Nước được sử dụng cho nông nghiệp và đời sống gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu đến từ các nhánh thượng nguồn của sông Mê Kông. Nhưng nước được lưu trữ trong các đập ở thượng nguồn, cùng với việc tiêu thụ nước ngày càng tăng, có khả năng làm cho hạn hán và xâm nhập mặn ở khu vực này kéo dài hơn.

Trong bảy năm qua, bảy nhà máy siêu thủy điện đã được xây dựng trên sông Mê Kông, với sáu nhà máy ở Trung Quốc.

Vào ngày 20 tháng 2, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Wang Yi cho biết tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hợp tác Lancang-Mekong lần thứ năm tại Viêng Chăn, Lào rằng Trung Quốc sẽ giúp các nước láng giềng ở hạ nguồn đối phó với hạn hán kéo dài bằng cách xả thêm nước từ đập.

Nhưng ngay cả khi Trung Quốc xả nước từ các đập thủy điện, nó có thể không đến được đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam, cách đó 3.000km, không lâu nữa.

Khai thác nước ngầm cũng đang thêm vào tình hình, kèm theo khai thác cát.

Khi các đập thượng nguồn ngăn nước lũ không tưới vào các cánh đồng, hàng triệu giếng đang cạn kiệt với tốc độ đáng báo động.

Theo một bài báo nghiên cứu có tiêu đề Tác động của 25 năm khai thác nước ngầm về sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long, Vietnam ((Mindehoud et al) năm 2017, trong 25 năm qua, đồng bằng đã chìm trung bình 18cm do hậu quả của việc rút nước ngầm , được sử dụng để đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, công nghiệp và trong nước ngày càng tăng, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng.

Không phải là mỉa mai rằng mặc dù đồng bằng sông Cửu Long là một trong những lưu vực sông lớn nhất trên hành tinh, nước mặt không thể được sử dụng do ô nhiễm, và mọi người phải dùng đến việc lấy nước từ mặt đất?

Khi tốc độ sụt lún tăng tốc, nó làm tăng mạnh tính dễ bị tổn thương của vùng đồng bằng đối với lũ lụt, nhiễm mặn và xói mòn bờ biển. Mặt đất chìm càng nhanh, sự xâm nhập mặn càng nhanh.

Việc thực hành ba vụ lúa một năm là một yếu tố khác cho vấn đề.

Vào những năm 1980, nông dân ở đồng bằng chỉ trồng một vụ mỗi năm. Nhưng khi nước này bắt đầu xuất khẩu gạo vào năm 1989, mọi thứ đã thay đổi. Nông dân tiếp tục tăng ruộng, và vì đất đai bị hạn chế, họ chuyển sang canh tác thâm canh với nhiều loại cây trồng, đưa Việt Nam trở thành một trong những nhà sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới.

Nhưng đồng bằng sông Cửu Long đã phải trả giá.

Với nhiều cây trồng hơn, cần nhiều nước hơn. Trong mùa khô, không còn dòng chảy bổ sung từ đất, khiến độ mặn xâm nhập sâu hơn.

Cuối cùng là ô nhiễm nguồn nước. Nước mặt ở đồng bằng sông Cửu Long đã trở nên ô nhiễm do chăn nuôi, sản xuất công nghiệp và thủy sản. Nó không thể được sử dụng nữa.

Phải làm sao

Điều Việt Nam cần làm bây giờ không phải là chờ nước đến từ lời hứa của Trung Quốc, mà là tìm cách tự cứu mình trước.

Nguyễn Ngọc Huy, một chuyên gia về biến đổi khí hậu thuộc Khoa biến đổi khí hậu tại Đại học Việt Nam Nhật Bản, đã đề xuất một số giải pháp để giúp tình hình trong dài hạn.

Ông khuyến nghị xây dựng một hệ thống các hồ chứa ở đồng bằng, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ quy mô gia đình đến quy mô cấp tỉnh. Những hồ chứa này có thể được xây dựng trên các nhánh sông, kênh và các khu vực kết nối các hệ thống sông.

Huy hồ xây dựng sẽ đòi hỏi các công việc xây dựng và nguồn tài chính khác, nhưng về lâu dài, Huy cho biết sẽ hiệu quả hơn so với việc xây dựng các cống hiện tại để ngăn chặn sự xâm nhập mặn.

Nếu cống được xây dựng để ngăn chặn sự xâm nhập của nước mặn, đê cũng sẽ phải được xây dựng cùng với chúng vì đồng bằng sông Cửu Long được hình thành bởi phù sa.

Cư dân địa phương sẽ không bao giờ có đủ khả năng để xây đê, Giáo Huy nói.

Hơn nữa, việc xây dựng các cống như vậy có tác động nghiêm trọng đến đa dạng sinh học. Cửa sông là nơi cá di cư để đẻ trứng, nhưng khi cống được xây dựng, cá không thể đẻ trứng và số lượng giảm. Các trung tâm nghề cá hiệu quả của đồng bằng sông Cửu Long sẽ sớm biến mất.

Huy cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải ngừng khai thác nước ngầm và chuyển sang sản xuất nông nghiệp chịu mặn hơn như lúa và tôm xen kẽ. Việc từ bỏ vụ thứ ba là điều bắt buộc, và điều này cần được khuyến khích và giám sát bởi một ủy ban, Huy nói.

Đồng bằng sông Cửu Long có thể nuôi sống cư dân của mình trong thời điểm hiện tại, nhưng liệu mối quan hệ tế nhị sẽ bị phá vỡ bởi các lỗi phát triển nội bộ vẫn còn được nhìn thấy.

Sự thật là ở đó, những con số ở đó, đồng bằng đang chìm dần, khô cạn. Điều quan trọng là chúng ta cần nhận ra rằng hầu hết những thay đổi này đối với đồng bằng sông Cửu Long là do con người tạo ra, và giờ đến lượt chúng ta phải làm một cái gì đó để trả lại đất như trước đây.

Tình hình rất đáng lo ngại, nhưng may mắn là thiên nhiên rất kiên cường. Người dân Việt Nam có thể trả lại đồng bằng cho trạng thái trước đó hay không là tùy thuộc vào họ. Chúng tôi biết những gì sẽ xảy ra. Nó sẽ không xảy ra qua đêm, nhưng đây là một thảm họa đang chờ xảy ra. Đó là sự thật. Chúng ta có thể chuyển đổi nông nghiệp từ tập trung sản xuất sang tập trung chất lượng? Chúng ta có thể ngừng khai thác cát và khai thác nước ngầm? Chúng ta có thể giảm số lượng thu hoạch lúa hàng năm? Tương lai nằm trong tay chúng ta.

You may also like...